Mô tả Sản phẩm
IL-11 là một cytokine và lần đầu tiên được phân lập vào năm 1990 từ các tế bào gốc giống tế bào sợi có nguồn gốc từ tủy xương. Ban đầu, người ta cho rằng nó quan trọng đối với quá trình tạo máu, đặc biệt là đối với quá trình trưởng thành của megakaryocyte, nhưng sau đó được chứng minh là không cần thiết đối với tiểu cầu và các loại tế bào máu khác ở cả chuột và người. Nó cũng được biết đến dưới tên yếu tố ức chế tạo mỡ (AGIF) và được phát triển dưới dạng protein tái tổ hợp (rhIL-11) dưới dạng chất thuốc oprelvekin.
Trình tự:
PGPAGSPRVSSDPRADLDSAVLLTRSLLADTRQLAAQMRDKFPADGDHSLDSLPTLAMSAGTLGSLQLPGVLTRLRVDLMSYLRHVQWLR
RAGGPSLKTLEPELGALQARLERLLRRLQLLMSRLALPQAAPDQPVIPLGPPASAWGSIRAAHAILGGLHLTLDWAVRGLLLLKTRL với thẻ polyhistidine ở đầu N
Nguồn:
Escherichia coli
Xét nghiệm nội độc tố:
<0.1 EU trên 1 μg protein theo phương pháp LAL.
Hoạt động:
Đo lường bằng khả năng gây tăng sinh tế bào T11. ED50 đối với hiệu ứng này là <0.5 ng/mL. Hoạt động cụ thể của IL-11 chuột tái tổ hợp là > 2 x 106 Đơn vị/mg.
Độ tinh khiết:
>98% được xác định bằng SDS-PAGE. Sắc ký Ni-NTA
Công thức:
Protein được đông khô từ dung dịch chứa 1X PBS, pH 8.0.
Tái thiết:
Nên tái tạo protein đông khô trong H vô trùng2O đến nồng độ không dưới 100 μg/mL và ủ dung dịch gốc trong ít nhất 20 phút để đảm bảo dung dịch được hòa tan trở lại đủ.
Lưu trữ:
Protein đông khô nên được bảo quản ở nhiệt độ -20°C. Sau khi tái tạo, các phần protein nên được bảo quản ở nhiệt độ -20°C hoặc -80°C.
Lưu ý:
Vui lòng sử dụng trong vòng một tháng sau khi hoàn nguyên protein.

